Thưa quý vị và các bạn!
Từ đầu năm đến nay, Đắk Lắk ghi nhận hơn 1.300 ca mắc sốt xuất huyết và số ca bệnh đang có xu hướng gia tăng khi bước vào mùa mưa. Đáng lo ngại, không ít người bệnh còn chủ quan, tự điều trị tại nhà, đến khi nhập viện thì bệnh đã chuyển nặng. Để giúp người dân hiểu rõ hơn về bệnh sốt xuất huyết, nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo, chủ động đi khám và điều trị đúng cách, PV đã có cuộc trao đổi cùng bác sĩ CKI Nguyễn Đình Toàn – Trưởng Khoa Nội, Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh.
Câu 1: Thưa bác sĩ, thời gian vừa qua, tại Khoa Nội của Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh các bệnh nhân nhập viện điều trị bệnh sốt xuất huyết trong tình trạng như thế nào? Những điểm đáng lưu ý của mùa dịch năm nay là gì?
Bác sĩ Nguyễn Đình Toàn, trả lời: Trong thời gian vừa qua, tại Khoa Nội Tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh tiếp nhận khá nhiều trường hợp sốt xuất huyết ở người lớn. Phần lớn bệnh nhân nhập viện sau khoảng 3 đến 5 ngày sốt, khi đã bắt đầu mệt nhiều, ăn uống kém, đau nhức cơ thể, đau đầu, buồn nôn hoặc có biểu hiện xuất huyết như chấm xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng, chảy máu cam. Một số trường hợp đến viện trong giai đoạn bệnh đã có dấu hiệu cảnh báo như đau bụng, nôn nhiều, lừ đừ, tiểu ít, tay chân lạnh, tiểu cầu giảm nhanh hoặc hematocrit tăng, cho thấy có tình trạng cô đặc máu và nguy cơ thoát huyết tương. Điểm đáng lưu ý là nhiều bệnh nhân ban đầu còn chủ quan, nghĩ đây chỉ là sốt siêu vi thông thường nên tự mua thuốc uống, tự truyền dịch hoặc chỉ đến bệnh viện khi đã hết sốt nhưng người lại mệt hơn. Đây là thời điểm rất dễ chuyển nặng trong sốt xuất huyết. Ngoài ra, ở người lớn, đặc biệt là người có bệnh nền như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch, bệnh gan thận, hoặc người cao tuổi, diễn biến bệnh có thể phức tạp hơn, nguy cơ biến chứng cũng cao hơn.
Bác sĩ CKI Nguyễn Đình Toàn thông tin về những vấn đề cần lưu ý khi mắc sốt xuất huyết.
Mùa dịch năm nay cũng cần lưu ý là bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn, số ca có xu hướng tăng trong mùa mưa. Vì vậy, người dân không nên xem nhẹ các triệu chứng sốt cao đột ngột, đau đầu, đau mỏi người, phát ban hoặc xuất huyết. Khi nghi ngờ sốt xuất huyết, cần đến cơ sở y tế để được khám, xét nghiệm và hướng dẫn theo dõi đúng cách, đặc biệt trong những ngày thứ 3 đến thứ 7 của bệnh.
Câu 2: Vậy vì sao các bệnh nhân lại chuyển nặng sau khi đã hạ sốt? Người bệnh cần theo dõi những dấu hiệu nào trong giai đoạn này để kịp thời đến cơ sở y tế, thưa bác sĩ?
Bác sĩ Nguyễn Đình Toàn, trả lời: Một điểm rất quan trọng trong sốt xuất huyết là khi người bệnh giảm sốt hoặc hết sốt không có nghĩa là bệnh đã khỏi. Ngược lại, đây thường là thời điểm bệnh có thể bước vào giai đoạn nguy hiểm. Lý do là trong giai đoạn này, thành mạch máu có thể tăng tính thấm, làm huyết tương thoát ra khỏi lòng mạch. Khi lượng dịch trong lòng mạch giảm, người bệnh có thể bị cô đặc máu, tụt huyết áp, sốc, rối loạn đông máu hoặc tổn thương các cơ quan nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Vì vậy, sau khi hạ sốt, người bệnh và người nhà cần theo dõi rất sát. Những dấu hiệu cần đi khám ngay hoặc quay lại bệnh viện ngay gồm: Mệt lả, bứt rứt, lừ đừ, đau bụng nhiều, nôn ói nhiều, ăn uống kém rõ, tiểu ít, tay chân lạnh, vã mồ hôi, chóng mặt, choáng, chảy máu cam, chảy máu chân răng, nôn ra máu, đi cầu phân đen, rong kinh hoặc xuất huyết bất thường. Ngoài ra, nếu người bệnh khó thở, tức ngực, bụng chướng, đau vùng gan hoặc có biểu hiện li bì thì phải đến cơ sở y tế ngay. Người dân cần nhớ rằng giai đoạn 24 đến 48 giờ sau khi giảm sốt là giai đoạn phải theo dõi chặt chẽ nhất. Không nên tự ý truyền dịch tại nhà, không tự dùng thuốc giảm đau hạ sốt như ibuprofen, aspirin hoặc các thuốc kháng viêm không steroid vì có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết. Khi có dấu hiệu bất thường, cần đến bệnh viện để được đánh giá mạch, huyết áp, lượng nước tiểu, xét nghiệm tiểu cầu, hematocrit và các chỉ số cần thiết khác.
Câu 3: Vậy xin bác sĩ Toàn cho biết, hiện nay việc điều trị bệnh nhân sốt xuất huyết tại bệnh viện được thực hiện theo những nguyên tắc nào? Trong quá trình điều trị, bác sĩ sẽ theo dõi và xử trí ra sao để hạn chế nguy cơ diễn tiến nặng và các biến chứng?
Bác sĩ Nguyễn Đình Toàn, trả lời: Hiện nay, sốt xuất huyết chưa có thuốc điều trị đặc hiệu để diệt vi rút Dengue. Vì vậy, nguyên tắc điều trị quan trọng nhất là đánh giá đúng mức độ bệnh, theo dõi sát diễn biến theo từng giai đoạn và xử trí kịp thời các dấu hiệu cảnh báo hoặc biến chứng. Khi bệnh nhân nhập viện, bác sĩ sẽ thăm khám toàn diện, phân loại mức độ bệnh: sốt xuất huyết Dengue thông thường, sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo hay sốt xuất huyết Dengue nặng. Việc phân loại này giúp quyết định bệnh nhân cần theo dõi thông thường, điều trị nội trú hay phải hồi sức tích cực. Trong quá trình điều trị, chúng tôi theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu sinh tồn như mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở, tri giác, tình trạng tay chân lạnh, lượng nước tiểu, tình trạng xuất huyết và các biểu hiện đau bụng, nôn ói, khó thở. Song song với đó là theo dõi xét nghiệm như công thức máu, tiểu cầu, hematocrit, men gan, chức năng thận, điện giải, đông máu khi cần. Đặc biệt, hematocrit và tiểu cầu là những chỉ số rất quan trọng để đánh giá nguy cơ thoát huyết tương, cô đặc máu và xuất huyết.
Về xử trí, bệnh nhân sẽ được hạ sốt đúng cách, thường dùng paracetamol theo chỉ định; tuyệt đối không tự dùng aspirin, ibuprofen hoặc thuốc kháng viêm vì có thể làm tăng nguy cơ chảy máu. Vấn đề bù dịch phải được tính toán rất thận trọng. Nếu bệnh nhân còn uống được, bác sĩ sẽ hướng dẫn bù nước bằng đường uống. Nếu có dấu hiệu cảnh báo, nôn nhiều, ăn uống kém, cô đặc máu hoặc nguy cơ sốc, bệnh nhân có thể được truyền dịch theo phác đồ. Tuy nhiên, truyền dịch trong sốt xuất huyết phải đúng loại dịch, đúng tốc độ và đúng thời điểm, vì truyền thiếu có thể gây sốc, nhưng truyền quá mức có thể gây quá tải dịch, tràn dịch màng phổi, phù phổi hoặc suy hô hấp. Đối với các trường hợp nặng như sốc sốt xuất huyết, xuất huyết tiêu hóa, rối loạn đông máu, tổn thương gan thận hoặc suy đa cơ quan, bệnh nhân sẽ được theo dõi tại khu vực hồi sức, xử trí chống sốc, điều chỉnh dịch truyền, truyền máu hoặc các chế phẩm máu khi có chỉ định. Việc truyền tiểu cầu không thực hiện chỉ dựa vào con số tiểu cầu thấp, mà phải căn cứ vào tình trạng lâm sàng, mức độ xuất huyết và hướng dẫn chuyên môn.
Mục tiêu cuối cùng của điều trị là giúp bệnh nhân vượt qua giai đoạn nguy hiểm một cách an toàn, tránh sốc, tránh xuất huyết nặng, tránh suy tạng và hạn chế tối đa biến chứng. Vì vậy, người bệnh cần tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ, không tự ý dùng thuốc, không tự ý truyền dịch và phải báo ngay cho nhân viên y tế khi có các biểu hiện bất thường.
Câu 4: Vậy sau khi điều trị sốt xuất huyết và được xuất viện, bệnh nhân cần tiếp tục được theo dõi, chăm sóc tại nhà như thế nào để phục hồi tốt? Đồng thời, người bệnh và người nhà cần lưu ý những dấu hiệu bất thường nào để quay trở lại cơ sở y tế kịp thời, tránh những biến chứng nguy hiểm, thưa bác sĩ?
Bác sĩ Nguyễn Đình Toàn, trả lời: Sau khi điều trị sốt xuất huyết và được xuất viện, người bệnh vẫn cần được nghỉ ngơi tại nhà, tránh lao động nặng hoặc vận động mạnh trong vài ngày đến 1–2 tuần vì cơ thể còn mệt, tiểu cầu và huyết động có thể chưa hồi phục hoàn toàn. Người bệnh cần uống đủ nước, có thể dùng nước lọc, oresol pha đúng hướng dẫn, nước trái cây, nước cháo loãng hoặc súp. Nên ăn thức ăn mềm, dễ tiêu, giàu dinh dưỡng, chia nhỏ bữa, tránh rượu bia và các thức ăn quá nhiều dầu mỡ khi còn mệt hoặc buồn nôn. Cần uống thuốc đúng theo đơn và tái khám đúng hẹn. Không tự ý dùng aspirin, ibuprofen hoặc các thuốc kháng viêm không steroid vì có thể làm tăng nguy cơ chảy máu. Khi còn sốt hoặc đau nhức, chỉ dùng paracetamol theo liều bác sĩ hướng dẫn.
Gia đình cần theo dõi hằng ngày các biểu hiện như nhiệt độ, mức độ tỉnh táo, khả năng ăn uống, nôn ói, đau bụng, lượng nước tiểu, dấu hiệu chảy máu và mức độ mệt của người bệnh. Đặc biệt cần lưu ý giai đoạn nguy hiểm có thể xuất hiện khi người bệnh bắt đầu hết sốt, vì lúc này có thể xảy ra thoát huyết tương, sốc hoặc xuất huyết nặng.
Các dấu hiệu cần quay lại cơ sở y tế ngay:
• Đau bụng nhiều, đau tăng dần hoặc đau vùng gan.
• Nôn nhiều, nôn liên tục, không uống được hoặc ăn uống kém rõ.
• Lừ đừ, vật vã, li bì, mệt lả hoặc khó đánh thức.
• Tay chân lạnh, vã mồ hôi, da tái, choáng, chóng mặt nhiều.
• Khó thở, thở nhanh hoặc cảm giác tức ngực.
• Chảy máu cam, chảy máu chân răng, nôn ra máu, đi cầu phân đen, tiểu máu hoặc rong kinh nhiều.
• Tiểu ít, khát nhiều, môi khô, mắt trũng hoặc dấu hiệu mất nước.
• Sốt cao trở lại hoặc tình trạng mệt hơn sau khi đã hết sốt.
Xin cảm ơn bác sĩ!
Thực hiện: Mai Lê