17/03/2026 09:05
Tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người cao tuổi. Bệnh chuyển biến nhanh hoặc để lại nhiều biến chứng nặng nề, khó hồi phục, như: nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim cấp, rối loạn nhịp tim và ngưng tim đột ngột. Mặc dù bệnh nguy hiểm nhưng nhiều người vẫn còn chủ quan không chủ động khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện bệnh sớm, khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn.
Tổ chức Y tế thế giới thống kê, mỗi năm trên thế giới có khoảng 17,9 triệu người tử vong do bệnh tim mạch. Tại Việt Nam, trung bình mỗi năm có khoảng 200 ngàn người tử vong vì bệnh tim mạch, chiếm 33% trường hợp tử vong do các bệnh, gấp 20 lần số người tử vong do ung thư và gấp 10 lần số người tử vong vì tai nạn giao thông. Theo bác sĩ Nguyễn Trọng Thiện - Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột: Bệnh lý tim mạch có nhiều nhóm, nhóm liên quan tới quả tim là bệnh suy tim, bệnh cơ tim hoặc viêm cơ tim; bệnh van tim; nhóm bệnh liên quan tới các rối loạn nhịp tim; nhóm bệnh động mạch vành, tăng huyết áp; nhóm bệnh liên quan đến hệ thống tuần hoàn và mạch máu là bệnh xơ vữa mạch máu, dị dạng mạch máu… Ngoài ra, bệnh tim mạch còn có các bệnh do bẩm sinh, di truyền, như: thông liên nhĩ, thông liên thất, các dị tật tim bẩm sinh khác (thường gặp ở trẻ em). Tim là bộ phận quan trọng nhất trong cơ thể con người, nhưng đôi khi vì sự chủ quan mà mỗi người không biết tim đang chịu tổn thương một cách âm thầm.
Trường hợp bà V.T.L, 91 tuổi ở phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, mặc dù tuổi cao nhưng bà L ít khi khám sức khoẻ định kỳ, chỉ đến khi cơ thể có dấu hiệu bị bệnh bà mới đi khám. Cách đây 2 năm, bà L lên cơn đau ngực, khó thở nhiều và phải nhập viện cấp cứu tại Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột, qua các xét nghiệm cận lâm sàng, bà L được chẩn đoán bị nhồi máu cơ tim cấp và được chỉ định đặt stent động mạch vành. Sau khi đặt stent động mạch vành tình trạng bệnh của bà L ổn định, hết đau ngực, hết khó thở nhưng sau đó lại xuất hiện tình trạng suy tim, rung nhĩ, suy thận, đái tháo đường nên phải nhập viện nhiều lần. Lần gần đây nhất, bà L nhập viện khi cơ thể phù nhiều, khó thở khi nằm nên không ngủ được về đêm. Từ đó sức khoẻ xuống cấp trầm trọng. Tuy nhiên, nhờ được điều trị tích cực tại bệnh viện, tình trạng của bà L cải thiện rõ rệt, đêm ngủ được và không còn phù. Bà V.T.L cho hay: “Từ ngày phát hiện bệnh, tôi thường xuyên đến bệnh viện kiểm tra sức khoẻ hơn. Mỗi khi có dấu hiệu tái phát gia đình đưa đến bệnh viện ngay, nhờ có đội ngũ y, bác sĩ theo dõi kỹ, sát sao nên giờ tôi thấy bệnh ổn định, đã ngủ được và không còn khó thở, chân cũng không còn sưng phù”.
Bệnh nhân bị bệnh tim được bác sĩ Nguyễn Trọng Thiện - Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột thăm khám, kiểm tra sức khoẻ.
Cũng theo bác sĩ Thiện: Bệnh tim mạch từ lâu đã được xem là căn bệnh phổ biến ở người trung niên và cao tuổi. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình trạng những người trẻ mắc các bệnh lý tim mạch ngày càng tăng, thậm chí có những trường hợp bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ khi chưa đến 30 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là người dân chủ quan, không chủ động tầm soát và khám sức khỏe định kỳ, khi có các dấu hiệu của bệnh mới đến cơ sở y tế. Bên cạnh đó, cùng với lối sống hiện đại và những thói quen xấu, như: Lạm dụng rượu, bia, hút thuốc lá, ít vận động, thừa cân, có tiền sử mắc các bệnh như đái tháo đường, tăng huyết áp, thức khuya, căng thẳng, áp lực tâm lý…cũng là nguyên nhân gây ra bệnh lý tim mạch. Ngoài ra, những bệnh nhân có bệnh lý mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận …mà không điều trị thường xuyên, không kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ khiến bệnh lý tim mạch diễn ra nhanh hơn. Tại Bệnh viện Đại học Y dược Buôn Ma Thuột, số bệnh nhân đến khám rất đông. Năm 2025, Bệnh viện khám khoảng trên 28.000 lượt bệnh, trung bình một ngày khám từ 90 đến 100 ca bệnh, điều trị nội trú khoảng 2.800 ca. Đây là một con số cực kỳ lớn, là gánh nặng và áp lực lên hệ thống y tế”.
“Tâm lý chung của bệnh nhân là khi có triệu chứng bệnh rồi mới đi khám. Cũng có một số ít bệnh nhân trong gia đình có người mắc bệnh tim mạch nên cũng chú ý đi khám sức khoẻ định kỳ, tuy nhiên, đây chỉ là số ít. Còn đa số bệnh nhân đến với bệnh viện khi đã có triệu chứng bệnh. Có thể bệnh nhân bị đau ngực, khó thở, sinh hoạt hằng ngày không được như bình thường. Cũng có trường hợp đến bệnh viện trong tình trạng cực kỳ nặng, để lại biến chứng nguy hiểm như suy hô hấp, tụt huyết áp, đe doạ đến tính mạng cần phải có can thiệp cấp cứu. Các triệu chứng của bệnh tim mạch thường không đặc trưng và rất khó nhận thấy ở giai đoạn đầu, cho đến khi dấu hiệu trở nên rõ ràng thì bệnh đã bước sang giai đoạn nguy hiểm. Lúc này việc điều trị đã trở nên phức tạp và mang nhiều rủi ro, chất lượng cuộc sống bệnh nhân sẽ giảm, bệnh nhân không thể sinh hoạt bình thường, khả năng gắng sức bị giảm xuống, sức lao động bệnh nhân giảm, về lâu về dài bệnh nhân sẽ bị suy tim và sẽ phải nhập viện nhiều lần để điều trị suy tim do khó thở, tức ngực, nhiều lần như vậy tim bệnh nhân sẽ giảm chức năng, hậu quả là bệnh nhân có thể tử vong. Nguy hiểm nhất của bệnh lý tim mạch không giống như những căn bệnh khác, bệnh này diễn biến âm thầm khi bùng phát thì có nguy cơ đột tử, do đó, tầm soát sớm để phát hiện bệnh vẫn là cách kiểm soát hiệu quả nhất đối với các bệnh lý tim mạch, bởi thông qua tầm soát sẽ giúp bác sĩ nhận diện được các yếu tố nguy cơ như rối loạn nhịp tim, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp…; đồng thời có thể phát hiện sớm bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh lý cơ tim cho bệnh nhân”, bác sĩ Thiện cho biết thêm.
Bất kỳ ai cũng nên chủ động tầm soát các bệnh lý về tim mạch. Đặc biệt, đối với những nhóm nguy cơ cao như: người mắc bệnh lý di truyền trong gia đình, người thừa cân, hút thuốc lá, người mắc bệnh tiểu đường, tăng huyết áp, những người mắc bệnh rối loạn chuyển hóa… thì cần kiểm tra và tầm soát để có những đánh giá, phát hiện kịp thời các bệnh lý tim mạch sớm. Nên tầm soát 1 đến 2 lần/năm để kiểm soát bệnh một cách hiệu quả nhất. Đặc biệt, với trường hợp khi có những dấu hiệu khó thở, cảm giác nặng trong ngực hoặc tức ngực, đau thắt ngực ở khu vực dưới xương ức, phía trước, cơn đau thường kéo dài 10 phút và hay lặp lại, xuất hiện hiện tượng phù, khi ngủ dậy mặt bị căng phù, mí mắt nặng, hoặc điển hình là phù bàn chân vào thời điểm nhất định trong ngày, cảm thấy đi dép chật, cơ thể mệt mỏi, kiệt sức khi thực hiện các hoạt động thường ngày, thậm chí mệt mỏi cả sau khi ngủ dậy, ho dai dẳng, khò khè, chán ăn, buồn nôn, đi tiểu đêm, nhịp tim nhanh, mạch không đều, lo lắng, chóng mặt, ngất xỉu…thì cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để thăm khám và làm các xét nghiệm cần thiết.
Bác sĩ Thiện khuyến cáo: “Bệnh lý tim mạch là bệnh lý mạn tính nên sẽ theo bệnh nhân đến suốt đời, bệnh lý này không phải là chữa được hay không mà là có kiểm soát tốt hay không. Nếu được kiểm soát bệnh tốt thì bệnh nhân có thể trở về cuộc sống bình thường, nhưng để kiểm soát được thì bệnh nhân phải tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ, thay đổi lối sống, có lối sống lành mạnh hơn, không nên sử dụng các chất kích thích như thuốc lá, rượu bia, phải tránh các yếu tố nguy cơ. Ví dụ bệnh nhân bị tăng huyết áp phải điều trị tăng huyết áp, bệnh nhân có mỡ máu phải điều trị mỡ máu, hoặc có bệnh lý mạn tính khác phải điều trị. Ngoài điều trị bằng thuốc, bệnh nhân cần phải chú ý đến chế độ ăn, nên ăn nhạt, hạn chế muối, hạn chế dầu mỡ nhất là mỡ nội tạng động vật, tăng cường ăn rau xanh, hạn chế tinh bột và chất đường, ngọt. Nếu sử dụng quá nhiều tinh bột và đường ngọt thì sẽ dẫn đến làm tăng tích luỹ lipit trong máu. Tăng cường vận động, thể dục thể thao 30 phút một ngày với môn thể thao phù hợp với sức khoẻ của mỗi người. Thông thường thì đi bộ, chạy bộ, nhảy dây, cầu lông, môn thể thao quá sức thì không nên”./.
Bài: Mỹ Hạnh - Ảnh: Quang Nhật
Facebook
Tweet
Mail
Google-plus
Các tin khác