Lao là một trong những bệnh nhiễm trùng cơ hội nguy hiểm ở người nhiễm HIV và vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nhóm này trên toàn cầu. Theo Bác sĩ CK1 Huỳnh Thị Hồng Sinh - Khoa Phòng, chống HIV, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Đắk Lắk: HIV làm hệ miễn dịch của cơ thể yếu đi, đây là lúc vi khuẩn lao có cơ hội “trỗi dậy”. Một người có thể đã nhiễm vi khuẩn lao từ trước nhưng vi khuẩn ẩn trong cơ thể dưới dạng không hoạt động và chưa gây bệnh. Khi sức đề kháng suy giảm do virus HIV gây ra, vi khuẩn lao sẽ bùng phát thành thể lao hoạt động. Không chỉ vậy, khi bệnh lao xuất hiện, sự kích hoạt hệ miễn dịch liên tục do vi khuẩn lao làm virus HIV nhân lên nhanh hơn, đẩy nhanh quá trình chuyển sang giai đoạn AIDS. Hệ miễn dịch vốn đã yếu lại càng suy giảm, khiến người bệnh dễ mắc thêm những bệnh nhiễm trùng khác. “Nói một cách dễ hiểu, HIV làm cơ thể mất dần khả năng chống lại vi khuẩn lao, còn bệnh lao lại khiến quá trình suy giảm miễn dịch do HIV diễn ra nhanh hơn”, bác sĩ Sinh giải thích.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), người nhiễm HIV có nguy cơ mắc bệnh lao cao hơn từ 18 đến 30 lần so với người không nhiễm HIV. Lao hiện vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở người nhiễm HIV. Điều đáng lưu ý là lao ở người nhiễm HIV không phải lúc nào cũng biểu hiện theo dạng lao phổi điển hình. Một số trường hợp có biểu hiện rất mơ hồ, dễ bị nhầm với những bệnh nhiễm trùng cơ hội khác. Kết quả chụp X-quang phổi cũng có thể không cho hình ảnh điển hình như ở người không nhiễm HIV.
Người đồng nhiễm lao và HIV cần tuân thủ đầy đủ phác đồ điều trị, không tự ý bỏ thuốc dù đã cảm thấy khỏe hơn.
“Lao ở người nhiễm HIV có thể không biểu hiện đầy đủ các triệu chứng điển hình như ở người không nhiễm HIV. Vì vậy, người bệnh cần chú ý đến những thay đổi bất thường của cơ thể, đặc biệt là các triệu chứng kéo dài. Một số dấu hiệu thường gặp bao gồm: ho kéo dài, sốt, đổ mồ hôi về đêm, sụt cân không rõ nguyên nhân, mệt mỏi, chán ăn. Tùy vị trí tổn thương, bệnh lao còn có thể gây ra những biểu hiện khác như nổi hạch kéo dài, đau đầu, đau xương khớp hoặc các triệu chứng liên quan đến cơ quan bị tổn thương. Bên cạnh đó, ở người nhiễm HIV, lao có thể xuất hiện ngoài phổi như lao hạch, lao màng brain (lao màng não), lao xương, lao màng bụng hoặc lao lan ra nhiều cơ quan trong cơ thể. Điều này khiến việc nhận diện bệnh đôi khi khó khăn hơn, dễ bị bỏ sót. Vì vậy, không nên chủ quan khi xuất hiện các triệu chứng kéo dài hoặc sức khỏe suy giảm không rõ nguyên nhân. Nếu đã nhiễm HIV và xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ lao, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được thăm khám, sàng lọc và thực hiện các xét nghiệm cần thiết. Không nên tự mua thuốc điều trị hoặc chờ bệnh tự khỏi”, bác sĩ Sinh cho biết thêm.
Đồng nhiễm lao và HIV đặt ra nhiều thách thức trong điều trị bởi người bệnh phải tiếp nhận các phác đồ thuốc khác nhau, trong đó có thuốc chống lao và thuốc kháng virus HIV (ARV). Việc sử dụng nhiều loại thuốc cùng lúc đòi hỏi nhân viên y tế phải theo dõi sát tình trạng sức khỏe, khả năng dung nạp thuốc, tương tác thuốc và các tác dụng không mong muốn.
Ở những người bệnh phát hiện HIV muộn, thể trạng đã suy giảm hoặc xuất hiện nhiều bệnh nhiễm trùng cơ hội, quá trình điều trị càng trở nên phức tạp. Người bệnh có thể mệt mỏi, chán ăn, sụt cân và gặp khó khăn trong việc duy trì việc uống thuốc đều đặn. Do đó, điều trị đồng nhiễm không chỉ đơn thuần là dùng thuốc mà còn cần sự phối hợp giữa cơ sở điều trị, nhân viên y tế và chính người bệnh. Tuân thủ đúng phác đồ, uống thuốc đúng liều, đúng thời gian và tái khám theo lịch là những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả điều trị.
Bác sĩ CK1 Huỳnh Thị Hồng Sinh tư vấn cho bệnh nhân về chăm sóc sức khỏe người đồng nhiễm lao và HIV.
Tại tỉnh Đắk Lắk, mỗi năm Khoa Phòng, chống HIV (CDC Đắk Lắk) tiếp nhận điều trị từ 10 đến 11 người bệnh đồng nhiễm lao và HIV, hầu hết đều ở độ tuổi từ 18 - 35 tuổi. Đây là nhóm tuổi còn trẻ, phần lớn đang trong giai đoạn học tập, lao động và xây dựng cuộc sống. Vì vậy, việc phát hiện bệnh sớm và duy trì điều trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ giúp kiểm soát tình trạng sức khỏe mà còn tạo điều kiện để người bệnh tiếp tục làm việc, học tập và duy trì cuộc sống ổn định. “Thực tế theo dõi tại Khoa Phòng, chống HIV cũng cho thấy hiệu quả của việc điều trị và tuân thủ thuốc có thể tạo ra những thay đổi rõ rệt. Khi người bệnh được phát hiện, điều trị đúng phác đồ và uống thuốc đều đặn, tình trạng sức khỏe có thể được cải thiện, giảm nguy cơ biến chứng và hạn chế bệnh tiến triển nặng”, bác sĩ Sinh khẳng định.
Trong số những người đang được quản lý, điều trị tại Khoa HIV có một bệnh nhân nam, sinh năm 2002 ở tỉnh Đắk Lắk bị HIV đồng nhiễm lao. Sau 2 năm điều trị tích cực và tuân thủ thuốc tại Khoa Phòng, chống HIV, tải lượng virus HIV của bệnh nhân đã dưới ngưỡng phát hiện. Các chỉ số công thức máu, chức năng gan, thận đều ổn định; sức khỏe và tình trạng lâm sàng cũng trở về bình thường. Từ một người mang trong mình nỗi lo về bệnh tật, giờ đây bệnh nhân đã có thể phấn khởi hơn khi đến khám, bởi kết quả điều trị cho thấy bệnh đang được kiểm soát tốt. Sức khỏe ổn định giúp người bệnh có thêm niềm tin, tinh thần lạc quan và động lực để tiếp tục duy trì điều trị lâu dài. Với người bệnh, việc tải lượng virus xuống dưới ngưỡng phát hiện và các chỉ số sức khỏe trở về ổn định là một dấu mốc quan trọng, giúp họ thêm tin tưởng rằng nếu kiên trì điều trị, tuân thủ thuốc và tái khám đúng hẹn, HIV không còn là dấu chấm hết cho cuộc sống.
Trường hợp trên cũng là một minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của điều trị. Khi được phát hiện, quản lý và điều trị đúng, người bệnh có thể kiểm soát bệnh, phục hồi sức khỏe và tiếp tục cuộc sống. Điều quan trọng là người bệnh không nên tự ý ngừng thuốc khi thấy sức khỏe đã ổn định. Với HIV, điều trị ARV cần được duy trì lâu dài, suốt đời; còn với bệnh lao, việc dùng thuốc phải đúng phác đồ và đủ thời gian theo chỉ định của bác sĩ.
Để phòng, chống đồng nhiễm lao và HIV, bác sĩ Sinh khuyến cáo:
• Đối với người mắc lao phổi có khả năng lây truyền: Cần thực hiện các biện pháp vệ sinh hô hấp và hạn chế tiếp xúc gần trong thời gian đầu điều trị để bảo vệ người thân và cộng đồng. Giữ môi trường sống thông thoáng, nhà ở nên có cửa sổ, lưu thông không khí và tận dụng ánh sáng tự nhiên. Người bệnh cần đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác, đặc biệt trong giai đoạn đầu điều trị theo hướng dẫn của nhân viên y tế. Khi ho hoặc hắt hơi, nên che miệng bằng khăn giấy hoặc khuỷu tay, bỏ khăn giấy đã sử dụng đúng nơi quy định và rửa tay sạch. Không khạc nhổ bừa bãi; đờm cần được xử lý đúng hướng dẫn của cơ sở y tế. Trong trường hợp cần thiết, người bệnh có thể được hướng dẫn ngủ riêng và hạn chế tiếp xúc gần với trẻ nhỏ hoặc người có hệ miễn dịch suy yếu cho đến khi nguy cơ lây nhiễm giảm.
• Đối với người nhiễm HIV: Cần thực hiện các biện pháp quan hệ tình dục an toàn, không dùng chung kim tiêm hoặc các dụng cụ có nguy cơ tiếp xúc với máu. Những người có nguy cơ phơi nhiễm HIV cần được tư vấn và xét nghiệm tại cơ sở y tế để được hướng dẫn biện pháp dự phòng phù hợp. Việc khám và sàng lọc lao định kỳ có ý nghĩa quan trọng. Khi có triệu chứng nghi ngờ hoặc thuộc nhóm nguy cơ, người bệnh cần thông báo cho nhân viên y tế để được đánh giá và làm xét nghiệm phù hợp.
Điều quan trọng nhất đối với người đồng nhiễm lao và HIV là không được buông xuôi. Thuốc tốt chỉ phát huy hiệu quả khi người bệnh uống đúng, đủ và đều, đồng thời được bác sĩ theo dõi và xử lý kịp thời các tác dụng phụ. Tóm lại, các yếu tố quyết định thành công trong điều trị bao gồm: Phát hiện và chẩn đoán sớm: Tầm soát lao chủ động ngay từ khi phát hiện HIV. Sự phối hợp chặt chẽ giữa 2 chương trình (Lao & HIV): Áp dụng hiệu quả mô hình "Một điểm đến" (bệnh nhân được khám, theo dõi và nhận thuốc lao + ARV tại cùng một cơ sở). Sự tuân thủ điều trị tuyệt đối của người bệnh: Đây là chìa khóa sống còn giúp khỏi bệnh lao và kiểm soát tốt HIV./.
Bài: Mỹ Hạnh - Ảnh: Bảo Trọng