16/01/2026 02:26
Tử vong mẹ là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân. Việc ngăn ngừa tình trạng tử vong mẹ không chỉ bảo vệ mạng sống của phụ nữ mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững của gia đình và xã hội. Hiểu rõ tầm quan trọng này, thời gian qua, tỉnh Đắk Lắk đã nỗ lực triển khai nhiều hoạt động nhằm cải thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em để hạn chế tình trạng tử vong mẹ.
Đắk Lắk là tỉnh có nhiều đặc điểm đặc thù về địa lý và dân cư, bao gồm các dân tộc thiểu số sinh sống ở các vùng sâu, vùng xa. Điều này tạo ra không ít khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cho bà mẹ trong quá trình mang thai và sinh nở. Theo số liệu thống kê của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh, tỷ lệ tử vong mẹ trên địa bàn tỉnh qua các năm như sau: Năm 2022 tỷ lệ tử vong mẹ chiếm 26,7‰, năm 2023 giảm xuống còn 16,1‰, nhưng năm 2024 lại tăng lên 22,7‰. Năm 2025 ghi nhận 08 ca tử vong mẹ và đã thực hiện thẩm định 08/08 ca. Trong đó 07 ca tại tỉnh gồm xã Liên Sơn Lắk, xã Đắk Phơi, xã Ea Bung, xã Quảng Phú, Phường Ea Kao, phường Hoà Hiệp, xã Tây Sơn và 1 ca ngoại tỉnh tại xã Krông Nô tỉnh Lâm Đồng. Nguyên nhân tử vong 8 ca trong đó băng huyết sau sinh: 2 ca; Băng huyết sau phá thai: 1 ca; Nghi thuyên tắc ối 1 ca; Bệnh nội khoa nghi do tim mạch/não gián tiếp: 3 ca và Hội chứng HELLP: 1 ca. Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Nhung, Trưởng khoa Sức khỏe sinh sản – Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Lắk, cho biết: Nguyên nhân gây ra tử vong mẹ vẫn được chia thành ba nhóm chính. Thứ nhất, nhóm nguyên nhân trực tiếp bao gồm các yếu tố như băng huyết, sản giật, tiền sản giật, nhiễm khuẩn sản khoa, vỡ tử cung, phá thai không an toàn, tắc mạch sản khoa và các tai biến sản khoa khác. Thứ hai, nhóm nguyên nhân gián tiếp liên quan đến các bệnh lý như bệnh tim mạch, huyết áp, bệnh hô hấp, bệnh tiêu hóa, nhiễm khuẩn, các bệnh nội tiết, miễn dịch, chuyển hóa và các bệnh lý khác. Cuối cùng, một phần tử vong mẹ không xác định được nguyên nhân rõ ràng, do các yếu tố phức tạp, khó chẩn đoán.
|

|
|
Lãnh đạo CDC cùng các đơn vị liên quan họp giám sát, phân tích nguyên nhân ca tử vong mẹ trên địa bàn. Ảnh: Thanh Thuý
|
Cũng theo bác sĩ Nhung, tình trạng tử vong mẹ vẫn là vấn đề nghiêm trọng, phản ánh qua ba giai đoạn chậm trễ trong quá trình chăm sóc thai phụ. Đầu tiên là chậm phát hiện và quyết định đi khám chậm trễ. Điều này phản ánh nhận thức hạn chế của cộng đồng, gia đình và thai phụ về các dấu hiệu nguy hiểm trong thai kỳ. Nhiều thai phụ không nhận thức được mức độ nghiêm trọng của tình trạng sức khỏe, dẫn đến việc không tìm kiếm sự can thiệp y tế kịp thời. Tiếp theo là chậm tiếp cận dịch vụ y tế, đặc biệt tại các vùng sâu vùng xa do yếu tố địa lý cùng với các rào cản văn hóa và kinh tế khiến thai phụ ngần ngại khi có dấu hiệu nguy hiểm và chần chừ đến bệnh viện. Cuối cùng là chậm chăm sóc và điều trị thích hợp tại cơ sở y tế, khi thai phụ đã đến cơ sở y tế nhưng vẫn tử vong do các nguyên nhân như chẩn đoán sai, xử trí không đúng phác đồ, thiếu máu hoặc thuốc, và quy trình chuyển tuyến không an toàn.
|

|
|
Để làm mẹ an toàn, phụ nữ mang thai nên khám thai định kỳ tại các cơ sở y tế. Ảnh: Quang Nhật
|
Trước thực trạng trên, việc triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ngăn ngừa tử vong mẹ là yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống y tế và cộng đồng. Theo bác sĩ Nhung, để giảm tử vong mẹ, trước hết, cần đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe sinh sản, đặc biệt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa nhằm nâng cao nhận thức cho phụ nữ mang thai và gia đình về tầm quan trọng của việc khám thai định kỳ, sinh con tại cơ sở y tế và nhận biết sớm các dấu hiệu nguy hiểm trong thai kỳ, chuyển dạ và sau sinh. Song song với đó, cần tăng cường sự tham gia của y tế cơ sở, đội ngũ cô đỡ thôn bản và cộng tác viên dân số trong việc theo dõi, quản lý thai nghén, kịp thời tư vấn và hướng dẫn thai phụ đến cơ sở y tế khi có nguy cơ. Bên cạnh việc nâng cao nhận thức cộng đồng, ngành y tế cần tiếp tục củng cố và nâng cao năng lực chuyên môn cho các cơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt là tuyến cơ sở, trong công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Việc đào tạo, cập nhật kiến thức, kỹ năng cấp cứu sản khoa, xử trí các tai biến sản khoa thường gặp, cũng như quản lý thai nghén nguy cơ cao cần được thực hiện thường xuyên. Đồng thời, cần bảo đảm đầy đủ trang thiết bị, thuốc, máu và các phương tiện cấp cứu thiết yếu để đáp ứng kịp thời các tình huống khẩn cấp, thiết lập hệ thống báo động đỏ nội viện và liên viện. Việc thực hiện nghiêm túc quy trình chuyển tuyến an toàn cũng là một giải pháp quan trọng nhằm hạn chế tử vong mẹ. Các cơ sở y tế cần phối hợp chặt chẽ trong công tác hội chẩn, chuyển tuyến kịp thời đối với các ca bệnh nặng, tránh tình trạng chậm trễ hoặc chuyển tuyến khi tình trạng sản phụ đã quá nguy kịch.
|

|
|
Để phòng nguy cơ tử vong mẹ, sản phụ nên lựa chọn sinh con ở các cơ sở y tế có đủ điều kiện chuyên môn. Ảnh: Quang Nhật
|
Có thể khẳng định, ngăn ngừa tử vong mẹ không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế mà cần sự chung tay của cả cộng đồng và xã hội. Khi các giải pháp được triển khai đồng bộ, hiệu quả, chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ sẽ từng bước được nâng cao, góp phần giảm thiểu tử vong mẹ, bảo vệ sức khỏe phụ nữ và hướng tới sự phát triển bền vững của tỉnh Đắk Lắk./.
Mai Lê
Facebook
Tweet
Mail
Google-plus
Các tin khác