11/04/2026 10:55
Trong những năm gần đây, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam đã có nhiều cải thiện. Tuy nhiên, một nghịch lý vẫn đang diễn ra ngay trong môi trường học đường đó là suy dinh dưỡng vẫn tồn tại, trong khi thừa cân, béo phì lại gia tăng nhanh chóng.
Thực tế này cho thấy, vấn đề không còn nằm ở việc ăn no mà đã chuyển sang ăn đúng và cân đối dinh dưỡng, là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với tầm vóc, thể lực và chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai. Tại Đắk Lắk, địa phương có nhiều vùng khó khăn thì bức tranh dinh dưỡng học đường phản ánh khá rõ nét. Theo số liệu của Sở Y tế và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh, năm 2022, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em là 18,3%, thấp còi 28,2%. Đến năm 2025, các chỉ số này giảm lần lượt còn 15,0% và 25,0%. Dù có cải thiện, nhưng mức giảm còn chậm và đặc biệt, tỷ lệ thấp còi vẫn cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn quốc (khoảng 10%). Bên cạnh đó, tại các khu vực thành thị tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh đang có xu hướng gia tăng. Điều này cho thấy khoảng cách dinh dưỡng giữa các vùng miền vẫn chưa được thu hẹp. Hai xu hướng đối lập cùng tồn tại trong một địa bàn đã tạo nên gánh nặng kép về dinh dưỡng, một thách thức không dễ giải quyết. Điểm đáng lưu ý, thực trạng dinh dưỡng học đường hiện nay không đơn thuần là thiếu ăn, mà là mất cân đối trong khẩu phần và hành vi dinh dưỡng.
Trước thực trạng trên, ngành giáo dục và y tế địa phương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dinh dưỡng học đường. Cô Trương Thị Bình – Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Thành Nhất cho biết: Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm và dinh dưỡng học đường được trường triển khai theo đúng hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo, đồng thời phối hợp chặt chẽ với ngành y tế. Các bếp ăn tập thể thực hiện quy trình chế biến một chiều, kiểm soát từ khâu lựa chọn nguyên liệu, bảo quản đến chế biến và phân chia suất ăn. Không chỉ bảo đảm an toàn, nhà trường còn chú trọng xây dựng thực đơn cân đối dinh dưỡng, phù hợp với từng độ tuổi, tăng cường rau xanh và vi chất cần thiết. Công tác tập huấn, kiểm tra định kỳ và đột xuất cũng được duy trì nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cấp dưỡng, từng bước nâng cao chất lượng bữa ăn học đường… Những nỗ lực này cho thấy công tác quản lý bữa ăn học đường đang dần đi vào nề nếp, hướng tới mục tiêu vừa bảo đảm an toàn vừa nâng cao giá trị dinh dưỡng.
Thực đơn phong phú đa dạng của một trường học tại Đắk Lắk.
Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực, thực tế vẫn còn không ít những tồn tại cần được nhìn nhận. Tại một số trường, đặc biệt ở khu vực vùng sâu, vùng xa, cơ sở vật chất bếp ăn còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về quy trình chế biến một chiều. Trong điều kiện thời tiết nắng nóng, việc bảo quản thực phẩm nếu không được kiểm soát chặt chẽ có thể tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn. Một vấn đề khác là nguồn cung thực phẩm chưa thực sự ổn định. Nhiều trường vẫn phụ thuộc vào các nhà cung cấp nhỏ lẻ, việc truy xuất nguồn gốc còn khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát chất lượng đầu vào. Áp lực về chi phí cũng là rào cản đáng kể, mức tiền ăn còn thấp khiến việc xây dựng thực đơn đa dạng, cân đối gặp nhiều hạn chế. Trong khi đó, hoạt động kiểm tra, giám sát dù đã được tăng cường nhưng chưa thể bao phủ thường xuyên tại tất cả các cơ sở… có thể thấy, nếu chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn công tác tổ chức bữa ăn học đường đảm bảo đủ dinh dưỡng và an toàn thực phẩm thì khó đạt hiệu quả bền vững.
Những bất cập trong dinh dưỡng học đường không chỉ xuất phát từ phía nhà trường mà là hệ quả của nhiều yếu tố đan xen. Trước hết, khẩu phần ăn tại một số nơi chưa được chuẩn hóa, còn nặng về tinh bột, thiếu rau xanh dẫn đến thiếu các vi chất dinh dưỡng cần thiết. Bên cạnh đó, sự chênh lệch điều kiện kinh tế giữa các khu vực cũng tạo ra khoảng cách rõ rệt trong tiếp cận dinh dưỡng, khi trẻ em ở vùng khó khăn dễ rơi vào tình trạng thiếu hụt, trong khi ở khu vực thành thị lại có nguy cơ dư thừa năng lượng. Cùng với đó, thói quen tiêu thụ đồ ăn nhanh, nước ngọt và thực phẩm chế biến sẵn ngày càng phổ biến trong học sinh, làm gia tăng nguy cơ mất cân đối dinh dưỡng. Đáng chú ý, việc thiếu kiến thức về dinh dưỡng khoa học ở cả phụ huynh và học sinh khiến nhiều gia đình vẫn chưa thực sự quan tâm đúng mức đến chất lượng bữa ăn. Thực tế tại một số gia đình ở thành thị cho thấy rõ những hệ lụy của tình trạng này. Trường hợp chị N.T. L tại phường Buôn Ma Thuột, con trai chị 10 tuổi, nặng gần 60 kg, vượt xa mức trung bình. Trước đây, gia đình cho rằng mập mạp là khỏe mạnh. Tuy nhiên, cháu dần gặp khó khăn trong vận động, nhanh mệt khi tham gia các hoạt động thể chất. Đáng lo ngại, trong một lần mắc sốt xuất huyết, bệnh diễn tiến nặng hơn do thừa cân, béo phì. Sau sự việc, gia đình đã thay đổi chế độ ăn uống và tăng cường vận động cho trẻ. “Tôi từng nghĩ con mập là tốt, nhưng thực tế béo phì tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ. Phụ huynh cần quan tâm sớm đến chế độ ăn và vận động của con”, chị L. chia sẻ.
Bên cạnh đó, việc không bảo đảm bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sự phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn trí tuệ. Bác sĩ CKI Vi Thị Huệ - Trưởng Khoa Dinh dưỡng, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, cảnh báo, tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em như sắt, kẽm, i-ốt, vitamin A… có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Trẻ không chỉ chậm phát triển chiều cao, suy giảm thể lực mà còn bị ảnh hưởng đến khả năng học tập, ghi nhớ và phát triển trí tuệ. Đặc biệt, thiếu vi chất còn làm suy giảm hệ miễn dịch, khiến trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và kéo dài thời gian hồi phục. Điều đáng lo ngại là tình trạng này thường diễn ra âm thầm, khó nhận biết trong giai đoạn đầu và dễ bị bỏ qua nếu không được theo dõi định kỳ. Vì vậy, việc xây dựng khẩu phần ăn cân đối, đa dạng thực phẩm và bổ sung vi chất hợp lý đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa và cải thiện sức khỏe cho trẻ em trong độ tuổi học đường.
Thời gian qua, Đắk Lắk đã triển khai một số mô hình can thiệp tích cực nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng học đường. Dự án hỗ trợ kỹ thuật sức khỏe và dinh dưỡng học đường tại Buôn Hồ và Krông Bông đã theo dõi tình trạng dinh dưỡng cho hơn 1.400 học sinh, nâng cao nhận thức cho hàng nghìn em, đồng thời xây dựng 17 vườn rau góp phần bổ sung nguồn thực phẩm tại chỗ cho bữa ăn học đường. Những kết quả bước đầu cho thấy hướng đi đúng, khi kết hợp giữa cải thiện khẩu phần và thay đổi hành vi dinh dưỡng.
Nhà trường chú trọng đến bữa ăn bán trú của học sinh.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy quy mô các chương trình còn hạn chế, chưa được triển khai đồng bộ trên diện rộng. Việc chuẩn hóa thực đơn, kiểm soát chất lượng bữa ăn và duy trì những thay đổi tích cực trong thói quen ăn uống của học sinh vẫn là những thách thức lớn.
Theo định hướng của Bộ Y tế, cần chuyển mạnh từ tư duy “ăn no” sang “ăn đúng – ăn đủ – ăn đa dạng – ăn an toàn”. Tại Hội thảo khoa học quốc tế về dinh dưỡng năm 2025, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức nhấn mạnh, dinh dưỡng không chỉ là yếu tố bảo đảm sức khỏe trước mắt mà còn là nền tảng quyết định đến trí tuệ và tầm vóc quốc gia trong tương lai. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trọng tâm là chuẩn hóa khẩu phần học đường theo từng lứa tuổi với định lượng cụ thể; tăng cường kiểm soát thực phẩm, đặc biệt là khu vực xung quanh trường học; tổ chức theo dõi, đánh giá tình trạng dinh dưỡng định kỳ cho học sinh; đồng thời đẩy mạnh giáo dục dinh dưỡng trong cả nhà trường và gia đình.
Dinh dưỡng học đường không còn là câu chuyện của riêng từng bữa ăn, mà là vấn đề mang tính chiến lược, gắn trực tiếp với chất lượng dân số và tương lai nguồn nhân lực. Những con số tại Đắk Lắk cho thấy, nếu không có giải pháp đồng bộ và quyết liệt, “gánh nặng kép” về dinh dưỡng sẽ tiếp tục kéo dài, làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa các nhóm trẻ em. Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới nâng cao tầm vóc, thể lực và trí tuệ, việc đầu tư cho dinh dưỡng học đường cần được nhìn nhận đúng tầm, không chỉ là trách nhiệm của ngành giáo dục hay y tế, mà là sự chung tay của toàn xã hội, từ nhà trường, gia đình đến cộng đồng.
Bài: Thu Phượng - Ảnh: Quang Nhật
Facebook
Tweet
Mail
Google-plus
Các tin khác