Tại Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên hàng năm tiếp nhận và điều trị cho nhiều trường hợp mắc bệnh ung thư vú. Đáng nói hầu hết bệnh nhân nhập viện điều trị khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, kéo theo nhiều biến chứng nguy hiểm, di căn nhiều bộ phận và đau đớn kéo dài.
Trường hợp của bà H’B Niê, 54 tuổi, ở xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk là một ví dụ, bà H’B có dấu hiệu bất thường ở vùng ngực, hay nhói đau khi làm việc nặng nhưng vì ngại đến bệnh viện nên bà luôn trì hoãn việc đi khám cho đến khi phát hiện có khối u lớn ở ngực, gây đau nhiều, chân không đi lại được gia đình mới đưa bà đến Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên để làm các xét nghiệm, kiểm tra tình trạng sức khoẻ. Lúc này, các bác sĩ phát hiện bà mắc bệnh ung thư vú, bệnh đã tiến triển đến giai đoạn 3, thậm chí có dấu hiệu di căn qua xương. Anh Y N AYun (con rể bà H’B) cho hay: “Khi phát hiện những dấu hiệu bất thường ở ngực, mẹ tôi chỉ nghĩ do làm việc vất vả nên đau nhức trong người là chuyện bình thường, chắc rồi sẽ tự hết nên cứ lần lữa, không đi khám. Đến khi cơn đau rõ ràng hơn, cơ thể mệt mỏi hơn, mẹ tôi mới bắt đầu lo lắng đến bệnh viện. Khi được chẩn đoán mắc ung thư vú, mẹ tôi như sụp đổ, bỏ ăn, đêm không ngủ được. Điều khiến mẹ tôi day dứt nhất không chỉ là bệnh tật, mà là suy nghĩ: ‘Giá như mình đi khám sớm hơn…Bác sĩ nói rằng nếu phát hiện sớm, việc điều trị có thể nhẹ nhàng và hiệu quả hơn rất nhiều. Lúc đó, mẹ tôi mới thấm thía rằng sự chủ quan và chần chừ của mình đã khiến mọi thứ trở nên khó khăn hơn”.
Một bệnh nhân bị ung thư vú đang được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên.
Theo bác sĩ CKII Bùi Quốc Hương - Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên: ung thư vú là loại ung thư có thể tầm soát, phát hiện sớm và điều trị khỏi bằng cá phương pháp: phẫu thuật, hoá trị, xạ trị, điều trị đích và thuốc ức chế kiểm soát miễn dịch. Có trường hợp nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên phát hiện ung thư vú từ năm 1989 đến nay vẫn sống khoẻ mạnh và làm việc bình thường là nhờ phát hiện sớm và điều trị tích cực. Từ ví dụ này cho thấy việc sàng lọc sớm nhằm phát hiện ung thư trước khi xuất hiện dấu hiệu hay triệu chứng bệnh đóng một vai trò quan trọng.
“Không giống một số bệnh lý khác có triệu chứng rõ ràng ngay từ đầu, ung thư vú thường ít có biểu hiện cụ thể. Ở giai đoạn sớm, khối u có thể rất nhỏ và chưa gây đau hay thay đổi đáng chú ý, nên nhiều người không nhận ra, khiến việc phát hiện trở nên khó khăn. Đó cũng là lý do vì sao nhiều trường hợp khi phát hiện bệnh đều đã ở giai đoạn 3, 4 hoặc giai đoạn cuối, gây ra nhiều biến chứng phức tạp di căn đến xương, phổi, gan, não…khiến bệnh nhân bị suy kiệt cơ thể, sụt cân nhanh chóng, mệt mỏi kéo dài, ăn uống kém, suy giảm miễn dịch và dễ nhiễm trùng. Lúc này việc điều trị chủ yếu để kéo dài sự sống và giảm triệu chứng đau”, bác sĩ Hương nhấn mạnh.
Không chỉ khó phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, diễn biến của ung thư vú cũng rất đa dạng. Có những trường hợp khối u phát triển chậm trong nhiều năm, nhưng cũng có những trường hợp bệnh tiến triển nhanh chóng chỉ trong thời gian ngắn. Sự khác biệt này khiến việc điều trị không có một “công thức chung” cho tất cả bệnh nhân. Mặc dù hiện nay khoa học vẫn chưa tìm ra chính xác nguyên nhân gây ung thư vú ở phụ nữ, nhưng có các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh, như: phụ nữ lấy chồng sinh con muộn, sinh con không cho bú, thừa cân, béo phì, lối sống và sinh hoạt thiếu khoa học, lười vận động, hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia, căng thẳng kéo dài, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ung thư vú…
Ung thư vú là căn bệnh nguy hiểm, khó lường nhưng không phải là không thể kiểm soát. Bác sĩ Hương khuyến cáo: Để phòng bệnh ung thư vú, điều quan trọng là mỗi người phụ nữ cần nâng cao nhận thức, chủ động phòng ngừa bằng cách: duy trì lối sống lành mạnh, thể dục, thể thao đều đặn, ăn nhiều rau xanh, trái cây, hạn chế đồ chiên rán, dầu mỡ, thực phẩm chế biến sẵn, giữ cân nặng hợp lý, không nên lấy chồng muộn, cho con bú sau sinh, hạn chế rượu bia và không hút thuốc lá. Đặc biệt, phụ nữ nên thực hiện tự khám vú tại nhà mỗi tháng, tốt nhất là 5–7 ngày sau khi hết kinh để dễ cảm nhận sự thay đổi của mô vú (lúc này mô vú mềm, dễ phát hiện bất thường). Nếu đã mãn kinh: chọn một ngày cố định mỗi tháng. Bước 1: Quan sát trước gương, đứng thẳng, để tay xuôi rồi giơ tay lên: so sánh hai bên vú có kích thước, hình dạng bất thường không, tìm dấu hiệu: Da nhăn, lõm, sần như vỏ cam; Núm vú tụt vào trong hoặc chảy dịch; Vùng da đỏ hoặc sưng. Bước 2: Sờ khi đứng hoặc tắm, dùng 3 ngón tay (trỏ, giữa, áp út), di chuyển nhẹ nhàng: Sờ theo vòng tròn từ ngoài vào trong hoặc lên–xuống, từ xương đòn xuống dưới vú, từ nách vào giữa ngực. Cảm nhận xem có cục cứng, u nhỏ, vùng dày lên bất thường, đau khu trú. Bước 3: Sờ khi nằm, nằm ngửa, kê gối mỏng dưới vai, tay bên khám đưa lên đầu, dùng tay còn lại sờ lại toàn bộ vú như bước trên. Tư thế này giúp mô vú dàn đều, dễ phát hiện khối u hơn. Trong quá trình tự khám vú, nếu sờ thấy cục cứng, không di động rõ, vú thay đổi hình dạng bất thường, vùng da quanh đầu núm vú thay đổi (co rút núm vú, nhăn nheo, hạt nhỏ ở quầng vú xung quanh núm vú), núm vú chảy dịch (đặc biệt là dịch máu), đau kéo dài không rõ nguyên nhân…cần đến ngay cơ sở y tế để thăm khám và can thiệp kịp thời. Ngoài tự khám, khám lâm sàng định kỳ tại cơ sở y tế cũng rất quan trọng. Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên cần khám tầm soát định kỳ ít nhất 1 năm 1 lần, bác sĩ sẽ khai thác tiền sử cá nhân, gia đình, các yếu tố nguy cơ…. Tùy từng trường hợp sẽ có chỉ định các phương pháp chẩn đoán hình ảnh phù hợp./.
Bài: Mỹ Hạnh - Ảnh: Bảo Trọng