Ngành y tế được xem là một trong những ngành đặc thù, là lĩnh vực có lực lượng lao động nữ đông đảo nhất. Từ các bệnh viện tuyến trung ương đến các trạm y tế xã, hình ảnh những nữ bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên miệt mài chăm sóc người bệnh đã trở nên quen thuộc. Tuy nhiên, đằng sau những đóng góp to lớn ấy vẫn còn tồn tại những khoảng cách về giới cần được nhìn nhận và từng bước khắc phục. Bình đẳng giới trong y tế không đơn thuần là việc lao động nam và nữ có số lượng ngang nhau, mà là việc mọi cá nhân đều có cơ hội phát triển nghề nghiệp, được tôn trọng, được bảo vệ và được phục vụ y tế theo đúng chuyên môn của mình.
Một trong những biểu hiện quan trọng của bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế là việc bảo đảm nam giới và phụ nữ đều có quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách công bằng, phù hợp với nhu cầu của từng giới. Mọi người bệnh, không phân biệt giới tính, đều được khám, chữa bệnh, tư vấn sức khỏe, phòng ngừa và điều trị bệnh trên cơ sở tôn trọng quyền lợi và sự lựa chọn của người bệnh. Tại các bệnh viện, nguyên tắc bình đẳng giới được thể hiện thông qua việc cung cấp dịch vụ y tế cho người bệnh không có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong quá trình tiếp nhận, thăm khám và điều trị. Bệnh viện đồng thời chú trọng đáp ứng các nhu cầu chăm sóc sức khỏe đặc thù của phụ nữ như chăm sóc sức khỏe sinh sản, khám thai, chăm sóc trước và sau sinh; cũng như quan tâm đến các vấn đề sức khỏe thường gặp ở nam giới. Việc bảo đảm mọi người bệnh đều được tiếp cận thông tin y tế, được tư vấn và tham gia vào quyết định điều trị góp phần nâng cao quyền tự chủ trong chăm sóc sức khỏe của cả nam và nữ. Bên cạnh việc cung cấp dịch vụ bình đẳng, bệnh viện cũng thực hiện các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về sức khỏe nhằm giảm thiểu những định kiến giới trong chăm sóc y tế, khuyến khích nam giới và phụ nữ chủ động bảo vệ sức khỏe của bản thân. Đây là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng môi trường khám, chữa bệnh văn minh, công bằng, hướng tới mục tiêu lấy người bệnh làm trung tâm và thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế.
Bình đẳng giới trong y tế là việc mọi cá nhân đều có cơ hội phát triển nghề nghiệp, được bảo vệ và được phục vụ y tế theo đúng chuyên môn của mình.
Đại dịch COVID-19 là minh chứng rõ nét cho vai trò, trách nhiệm và sự cống hiến của đội ngũ nhân viên y tế, trong đó có rất nhiều nữ cán bộ y tế. Khi dịch bệnh bùng phát, nhiều nữ bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và nhân viên y tế đã tạm gác lại công việc chăm sóc gia đình, sẵn sàng lên đường thực hiện nhiệm vụ tại các khu cách ly, bệnh viện dã chiến, điểm lấy mẫu xét nghiệm và các khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao. Họ trực tiếp tham gia lấy mẫu bệnh phẩm, thực hiện xét nghiệm, chăm sóc, điều trị người bệnh và triển khai các biện pháp phòng, chống dịch trong điều kiện nhiều khó khăn, áp lực và nguy cơ phơi nhiễm. Trong những thời điểm cam go nhất của đại dịch, tinh thần trách nhiệm và y đức đã trở thành động lực để mỗi cán bộ y tế hoàn thành nhiệm vụ, không phân biệt nam hay nữ. Tất cả đều chung một mục tiêu là bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân và góp phần kiểm soát dịch bệnh. Những đóng góp thầm lặng nhưng to lớn của đội ngũ nhân viên y tế, đặc biệt là các nữ cán bộ y tế, đã khẳng định rằng bình đẳng giới không chỉ thể hiện ở quyền và cơ hội như nhau, mà còn được minh chứng bằng sự đồng hành, sẻ chia trách nhiệm và cống hiến bình đẳng của cả nam và nữ trong thực hiện nhiệm vụ vì cộng đồng.
Định kiến giới là rào cản cần được xóa bỏ
Có quan niệm vẫn cho rằng ngoại khoa là lĩnh vực dành cho nam giới. Thực tế đã chứng minh điều ngược lại. Nhiều nữ bác sĩ ngoại khoa đã thực hiện thành công những ca phẫu thuật phức tạp. Hay như nhiều người cho rằng điều dưỡng là nghề phù hợp với phụ nữ bởi đòi hỏi sự nhẹ nhàng, tỉ mỉ và chu đáo, thì hiện nay ngày càng có nhiều nam điều dưỡng khẳng định năng lực của mình tại các khoa cấp cứu, hồi sức tích cực, ngoại khoa, tâm thần và nhiều chuyên khoa khác. Họ đảm nhận những công việc có cường độ cao, đòi hỏi sức khỏe, kỹ năng chuyên môn và khả năng xử lý tình huống nhanh chóng, đồng thời luôn tận tâm trong chăm sóc người bệnh. Thực tế này cho thấy trong ngành y, năng lực, y đức và tinh thần trách nhiệm mới là yếu tố quyết định chất lượng công việc, chứ không phải giới tính. Khi những rào cản về định kiến được xóa bỏ, mỗi cá nhân sẽ có thêm cơ hội phát huy sở trường và cống hiến cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Hay như trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới không chỉ là trách nhiệm của phụ nữ mà còn cần sự tham gia tích cực của nam giới. Chăm sóc thai kỳ, kế hoạch hóa gia đình hay nuôi dạy con cái đều cần sự đồng hành của cả hai vợ chồng. Khi nam giới được cung cấp đầy đủ kiến thức về sức khỏe sinh sản và chủ động chia sẻ trách nhiệm với bạn đời, chất lượng cuộc sống gia đình sẽ được nâng cao, đồng thời góp phần giảm các nguy cơ đối với sức khỏe của phụ nữ và trẻ em.
Mặc dù ngành y tế là một trong những lĩnh vực có tỷ lệ lao động nữ cao và luôn đề cao nguyên tắc bình đẳng trong tuyển dụng, sử dụng và chăm sóc người bệnh, song những định kiến "trọng nam khinh nữ" vẫn còn tồn tại ở một bộ phận người dân và ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của ngành. Một biểu hiện dễ nhận thấy là tư tưởng mong muốn sinh con trai để nối dõi, dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam. Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), tâm lý ưa thích con trai vẫn là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lựa chọn giới tính trước sinh và mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta. Trong thực tiễn công tác, cán bộ y tế thường xuyên phải tư vấn, truyền thông nhằm thay đổi nhận thức của người dân về giá trị bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái, đồng thời kiên quyết tuân thủ các quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi vì mục đích phân biệt giới. Điều này cho thấy, bên cạnh nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe, ngành y tế còn đóng vai trò quan trọng trong việc xóa bỏ định kiến giới và thúc đẩy bình đẳng giới trong cộng đồng.
Hiện nay, lao động nữ tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên chiếm khoảng trên 60% tổng số cán bộ, viên chức và người lao động của bệnh viện. Đây là lực lượng nòng cốt ở nhiều lĩnh vực như điều dưỡng, hộ sinh, dược, xét nghiệm và nhiều chuyên khoa lâm sàng. Tuy nhiên, trong công tác phân công nhiệm vụ, bệnh viện luôn căn cứ vào năng lực chuyên môn, vị trí việc làm và yêu cầu thực tiễn của từng khoa, phòng, không phân biệt giới tính. Những vị trí đòi hỏi cường độ lao động cao, trực cấp cứu hay phẫu thuật đều được bố trí phù hợp trên cơ sở bảo đảm hiệu quả công việc và sức khỏe của người lao động. Hiện đơn vị cũng chú trọng tạo điều kiện để cả nam và nữ được tham gia đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, quy hoạch, bổ nhiệm và phát triển nghề nghiệp bình đẳng. Đồng thời, bệnh viện quan tâm thực hiện đầy đủ các chế độ đối với lao động nữ, xây dựng môi trường làm việc an toàn, văn minh, không có bạo lực và quấy rối tại nơi làm việc. Đây được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm phát huy năng lực của mỗi cán bộ y tế, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và xây dựng môi trường y tế nhân văn.
Để thúc đẩy bình đẳng giới, ngành Y tế Đắk Lắk cũng đã và đang triển khai Kế hoạch số 0236/KH-SYT để thực hiện Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2026-2030. Mục tiêu là đảm bảo 100% cán bộ y tế được nâng cao nhận thức, thu hẹp khoảng cách giới trong chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cho người dân; phấn đấu duy trì tỷ số giới tính khi sinh ở mức cân bằng từ 104-107 bé trai/100 bé gái; giảm tỷ lệ tử vong mẹ liên quan đến thai sản xuống dưới 42/100.000 trẻ sinh sống; giảm tỷ suất sinh ở vị thành niên xuống dưới 18 ca sinh/1.000 phụ nữ. Kế hoạch cũng hướng tới việc có ít nhất một cơ sở y tế tuyến tỉnh cung cấp thí điểm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ dành cho người đồng tính, song tính và chuyển giới năm 2030.
Theo ông Hoàng Nguyên Duy - Phó Giám đốc Sở Y tế Đắk Lắk: thời gian tới ngành y tế sẽ tiếp tục đẩy mạnh truyền thông thay đổi nhận thức, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ y tế về lồng ghép giới trong hoạt động chuyên môn; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, cải thiện sức khỏe bà mẹ, trẻ em và mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế cho mọi nhóm đối tượng.
Tuy nhiên, việc thực hiện bình đẳng giới rất cần có sự phối hợp của toàn xã hội. Các chính sách tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm và đánh giá nhân sự cần dựa trên năng lực thay vì giới tính. Đồng thời, cần tăng cường truyền thông nhằm xóa bỏ định kiến giới, khuyến khích cả nam và nữ tham gia vào mọi chuyên ngành y học theo sở trường của mình. Việc xây dựng môi trường làm việc an toàn, phòng chống quấy rối và bảo đảm quyền lợi cho nhân viên y tế cũng là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện bình đẳng giới.
Trong bối cảnh ngành y đang chuyển đổi mạnh mẽ với sự phát triển của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và y học chính xác, bình đẳng giới càng trở nên cần thiết. Khi mọi nhân viên y tế đều có cơ hội tiếp cận đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới, hệ thống y tế sẽ có thêm nguồn lực để đổi mới và phát triển. Đồng thời, người bệnh cũng được hưởng lợi từ những dịch vụ y tế chất lượng, an toàn và công bằng hơn./.
Bài: Mỹ Hạnh - Ảnh: Bảo Trọng