Phóng viên: Thưa bác sĩ, những thai phụ nào có nguy cơ cao mắc đái tháo đường thai kỳ? Và nếu không thuộc nhóm nguy cơ thì có cần tầm soát hay không?
Bác sĩ CKI Niê Thị Lệ Mai:
Đái tháo đường thai kỳ là tình trạng rối loạn dung nạp glucose được phát hiện trong thời kỳ mang thai. Điều tôi muốn nhấn mạnh là bệnh này có thể gặp ở bất kỳ thai phụ nào, chứ không chỉ ở những người có yếu tố nguy cơ. Những thai phụ có nguy cơ cao thường là người thừa cân, béo phì; từng sinh con to từ 4 kg trở lên; có tiền sử thai lưu không rõ nguyên nhân, tiền sản giật; mắc hội chứng buồng trứng đa nang hoặc có người thân trong gia đình mắc đái tháo đường. Tuy nhiên, không có yếu tố nguy cơ không có nghĩa là sẽ không mắc đái tháo đường thai kỳ. Vì vậy, hiện nay chúng tôi vẫn khuyến cáo tầm soát cho tất cả thai phụ, thường ở khoảng tuần thai thứ 24 đến 28 nếu trước đó chưa phát hiện bất thường về đường huyết. Đối với những thai phụ có nguy cơ cao, bác sĩ có thể chỉ định kiểm tra đường huyết ngay từ lần khám thai đầu tiên hoặc sớm hơn. Nếu kết quả ban đầu bình thường thì vẫn cần tầm soát lại vào khoảng tuần 24 đến 28. Tôi thường nhắc các mẹ bầu là đừng chờ đến khi có triệu chứng mới đi xét nghiệm. Đái tháo đường thai kỳ thường diễn tiến âm thầm và nhiều thai phụ hoàn toàn không có triệu chứng rõ ràng.
Bác sĩ CKI Niê Thị Lệ Mai - Phó Trưởng khoa Phụ sản, Bệnh viện Thiện Hạnh thăm khám cho thai phụ
Phóng viên: Khi thực hiện nghiệm pháp dung nạp 75 gram glucose, chỉ số đường huyết như thế nào thì được xác định là đái tháo đường thai kỳ? Và nếu chỉ một trong các thời điểm xét nghiệm vượt ngưỡng thì có được chẩn đoán hay không?
Bác sĩ CKI Niê Thị Lệ Mai:
Với nghiệm pháp dung nạp glucose 75 gram, thai phụ sẽ nhịn đói qua đêm ít nhất 8 giờ trước khi làm xét nghiệm. Sau đó, chúng tôi lấy mẫu máu để kiểm tra đường huyết lúc đói, rồi cho thai phụ uống 75 gram glucose và tiếp tục kiểm tra đường huyết sau 1 giờ và sau 2 giờ. Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới và Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ, các ngưỡng cần lưu ý là: đường huyết lúc đói từ 92 mg/dL trở lên, sau 1 giờ từ 180 mg/dL trở lên, hoặc sau 2 giờ từ 153 mg/dL trở lên. Điểm rất quan trọng là chỉ cần một trong ba giá trị bằng hoặc vượt ngưỡng là đã đủ để chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ theo chiến lược một bước với nghiệm pháp 75 gram.
Phóng viên: Khi đã được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ, việc quản lý thai phụ sẽ được thực hiện như thế nào để vừa kiểm soát đường huyết vừa bảo đảm thai nhi tiếp tục phát triển an toàn?
Bác sĩ CKI Niê Thị Lệ Mai:
Khi được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ thì các mẹ cũng không nên quá lo lắng. Điều này không có nghĩa là thai kỳ sẽ trở thành một thai kỳ nguy hiểm. Mục tiêu của việc quản lý là kiểm soát tốt đường huyết nhưng đồng thời vẫn phải bảo đảm người mẹ được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và thai nhi tăng trưởng phù hợp. Thông thường, chúng tôi sẽ quản lý theo từng bước. Đầu tiên là dinh dưỡng, thai phụ sẽ được tư vấn chế độ ăn cân đối, phân bổ lượng carbohydrate hợp lý trong ngày, ưu tiên rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt và các nguồn đạm tốt, đồng thời cần hạn chế bánh kẹo, chè và những thực phẩm có thể làm đường huyết tăng nhanh. Thứ hai là vận động phù hợp, nếu không có chống chỉ định về sản khoa thì thai phụ vẫn được khuyến khích vận động ở mức độ vừa phải, một việc rất đơn giản mà các mẹ có thể thực hiện là đi bộ khoảng 10 đến 15 phút sau bữa ăn, đồng thời hướng tới khoảng 150 phút vận động mức độ vừa mỗi tuần. Thứ ba là tự theo dõi đường huyết tại nhà, thai phụ thường được hướng dẫn kiểm tra đường huyết mao mạch, mục tiêu thường là đường huyết lúc đói dưới 5,3 mmol/L, sau ăn 1 giờ dưới 7,8 mmol/L và sau ăn 2 giờ dưới 6,7 mmol/L. Và thứ tư là theo dõi thai. Ngoài đường huyết của người mẹ, bác sĩ sẽ theo dõi huyết áp, cân nặng, tình trạng tăng trưởng của thai và các chỉ số sức khỏe của thai nhi tùy vào mức độ kiểm soát đường huyết cũng như tình trạng sản khoa. Như vậy, điều trị đái tháo đường thai kỳ không đơn giản chỉ là “hạ đường huyết”, mà là một quá trình quản lý cả mẹ và thai nhi cho đến khi sinh.
Phóng viên: Một điều khiến nhiều thai phụ lo lắng là phải sử dụng insulin. Bác sĩ có thể cho biết trong trường hợp nào việc điều chỉnh dinh dưỡng và vận động chưa đủ, và khi nào cần chuyển sang điều trị bằng insulin?
Bác sĩ CKI Niê Thị Lệ Mai:
Đây là vấn đề tôi thường phải giải thích khá kỹ với các mẹ. Việc phải sử dụng insulin không có nghĩa là mẹ bị bệnh nặng hay mẹ đã làm gì sai trong chế độ ăn uống. Trong thai kỳ, đặc biệt là từ giữa đến cuối thai kỳ, các hormone do nhau thai sản xuất ra làm tăng tình trạng đề kháng insulin. Một số người mẹ không thể tăng sản xuất insulin đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cơ thể, vì vậy đường huyết vẫn cao mặc dù đã ăn uống và vận động rất tốt. Thông thường, sau khi chẩn đoán, chúng tôi sẽ bắt đầu bằng việc điều chỉnh dinh dưỡng, vận động và theo dõi đường huyết. Nếu sau khoảng 1 đến 2 tuần đã thực hiện tốt chế độ dinh dưỡng và vận động nhưng đường huyết vẫn thường xuyên vượt mục tiêu, đặc biệt là đường huyết lúc đói hoặc sau ăn liên tục cao, thì bác sĩ sẽ cân nhắc điều trị bằng thuốc. Theo khuyến cáo của ADA năm 2026, insulin là tiêu chuẩn vàng và được ưu tiên hàng đầu trong điều trị bằng thuốc, vì insulin không qua nhau thai và được xem là an toàn cho thai nhi. Vì vậy, nếu bác sĩ chỉ định insulin, các mẹ không nên nghĩ rằng mình đã thất bại. Ngược lại, đây là một bước điều trị nhằm đưa đường huyết về mức an toàn và giảm nguy cơ cho cả mẹ và em bé.
Phóng viên: Sau khi em bé chào đời, hành trình theo dõi có kết thúc hay không? Người mẹ từng bị đái tháo đường thai kỳ cần làm gì để tiếp tục bảo vệ sức khỏe của mình và em bé?
Bác sĩ CKI Niê Thị Lệ Mai:
Câu trả lời là không. Sinh em bé là kết thúc thai kỳ nhưng không phải là kết thúc việc theo dõi đái tháo đường thai kỳ. Sau sinh, tình trạng đề kháng insulin do nhau thai gây ra sẽ giảm rất nhanh. Vì vậy, ở phần lớn phụ nữ từng bị đái tháo đường thai kỳ, đường huyết có thể trở về bình thường. Tuy nhiên, những người từng mắc đái tháo đường thai kỳ có nguy cơ cao hơn mắc đái tháo đường type 2 trong tương lai và cũng có nguy cơ tái phát ở những lần mang thai sau. Do đó, trong vòng 4 đến 12 tuần sau sinh, người mẹ nên được làm nghiệm pháp dung nạp glucose 75 gram để đánh giá lại tình trạng đường huyết. Nếu kết quả bình thường thì cũng không có nghĩa là chúng ta có thể hoàn toàn quên vấn đề này. Người mẹ vẫn nên kiểm tra đường huyết định kỳ, khoảng mỗi 1 đến 3 năm.
Bên cạnh đó, các mẹ nên duy trì chế độ ăn lành mạnh, vận động thường xuyên, kiểm soát cân nặng phù hợp, theo dõi huyết áp và các yếu tố nguy cơ chuyển hóa. Đặc biệt, trước những lần mang thai tiếp theo cũng nên chủ động khám và kiểm tra đường huyết.
Đối với em bé, nếu mẹ từng mắc đái tháo đường thai kỳ thì cũng nên thông báo cho bác sĩ nhi khoa. Trẻ có mẹ từng mắc đái tháo đường thai kỳ có nguy cơ cao hơn về thừa cân, béo phì và một số rối loạn chuyển hóa về sau. Vì vậy, việc xây dựng cho trẻ chế độ dinh dưỡng phù hợp, khuyến khích vận động và hình thành lối sống lành mạnh ngay từ nhỏ cũng rất quan trọng.
Tôi muốn gửi một thông điệp đến các mẹ bầu là đái tháo đường thai kỳ không phải là dấu chấm hết của một thai kỳ khỏe mạnh. Điều quan trọng là chúng ta phát hiện sớm, kiểm soát đường huyết đúng cách và theo dõi cả mẹ lẫn em bé. Và đặc biệt, nếu phải sử dụng insulin thì các mẹ cũng không nên lo lắng hay cảm thấy mình thất bại. Insulin là một công cụ điều trị giúp chúng ta bảo vệ sức khỏe của cả mẹ và bé. Quan trọng hơn nữa, sau khi sinh, người mẹ vẫn cần tiếp tục theo dõi sức khỏe chuyển hóa của mình, bởi đái tháo đường thai kỳ có thể là một tín hiệu cảnh báo sớm về nguy cơ đái tháo đường type 2 trong tương lai.
Xin cảm ơn Bác sĩ!
Thực hiện: Thu Phượng